Giải Nghĩa Kinh Đại Niết Bàn
(Audio)
Tài Liệu Dẫn Chứng
https://thuvienhoasen.org/a158/kinh-dai-bat-niet-ban
Tài liệu trích dẫn: các phẩm Tứ Y, Nguyệt Dụ, Bồ tát – kinh Đại Bát Niết Bàn – bản Việt dịch của Hòa thượng Thích Trí Tịnh
◊
Đời vị lai, đời mạt pháp cùng chung một thời điểm. Vì đặc điểm của đời mạt pháp là có rất nhiều điều ác xảy ra nơi đời. Nên cũng có khi đức Phật gọi – đời trược ác hoặc đời ác để nói về thời kỳ này.
◊
– Kinh Đại Bát Niết Bàn là tựa kinh.
– Kinh Đại thừa Đại Niết Bàn thì gồm có tất cả các kinh điển Đại thừa.
– Kinh Đại Niết Bàn là lời giảng có phát ra tia sáng Đại Niết Bàn. Xuất hiện ra đời vào đời mạt pháp giảng nói yếu nghĩa thâm mật của kinh Đại thừa Đại Niết Bàn – tức là gồm tất cả những lời giảng trong các kinh Đại thừa.
◊
Trong phần cuối phẩm Nguyệt Dụ – có đoạn đức Phật bảo ngài Ca Diếp Bồ tát:
“Nầy Thiện-nam-tử ! Giáo pháp – phương đẳng đại-thừa (cũng là giáo pháp giảng trong các kinh Đại thừa) vi-mật của Như-Lai – nói là đức Như-Lai thị hiện rưới mưa đại pháp nơi thế gian.
Đời vị lai nếu có người nào có thể thọ trì kinh điển nầy (tức là thọ trì giáo pháp giảng trong các kinh Đại thừa), giảng nói khai-thị lợi ích cho chúng sanh, nên biết những người nầy thiệt là Bồ-Tát. Dụ như ngày thạnh hạ rưới mưa cam-lồ.
Nếu có hàng Thanh-Văn, Duyên-Giác nghe giáo pháp vi mật của Như-Lai thời dụ như ngày mùa đông gặp nhiều lạnh lẽo (không thể nẩy mầm, nở hoa).
Hàng Bồ-Tát nếu nghe giáo pháp vi-mật “Như-Lai tánh thường trụ không biến đổi như vậy, thời dụ như ngày mùa xuân nẩy mầm, nở hoa…”
◊
Giải:
– thọ trì mà có thời điểm (đời vị lai) cùng với mục đích khai thị => nhận giữ trách niệm => cho biết: đến đời vị lai mới có người giảng nói giáo pháp trong kinh Đại thừa cho mọi người biết lợi ích của giáo pháp do các đức Phật Như Lai trọn nên.
Tuy nhiên chỉ có hàng Bồ tát mới tin hiểu (nẩy mầm, nở hoa)
Còn hàng Thanh văn, Duyên giác thì không tin nhận (không thể nẩy mầm, nở hoa)
Người khai giảng giáo pháp vi mật của Như Lai trong các kinh Đại thừa là Bồ tát.
Lời khai giảng giáo pháp vi mật của Như Lai gọi là kinh Đại Niết Bàn => thời điểm kinh Đại Niết bàn xuất hiện ra đời là đời vị lai – lúc có rất nhiều điều ác xảy ra nơi đời.
◊
Gần cuối phẩm – đức Phật bảo:
“Nầy Thiện-nam-tử ! Như lúc mặt trời mọc lên, sương mù đều tan. Kinh Đại- Niết-Bàn vi diệu nầy cũng như vậy. Lúc kinh nầy xuất hiện ra đời, nếu có chúng sanh nào một lần được nghe, đều có thể dứt trừ tất cả tội nghiệp vô gián, tất cả những điều ác. Kinh Đại-Niết-Bàn nầy cảnh giới rất sâu chẳng thể nghĩ bàn, khéo nói lên được tánh Như-Lai vi-mật.
… Vì thế nên kinh nầy gọi là do vô lượng công đức kết thành, cũng gọi là chánh giác chẳng cùng tận, do vì chẳng cùng tận, nên đặng gọi là Đại-Niết-Bàn.”
◊
Sang đầu phẩm Bồ Tát đức Phật bảo:
“Nầy Thiện-nam-tử ! Như ánh sáng mặt trời mặt trăng hơn hết trong các ánh sáng. Ánh sáng Đại-Niết-Bàn rất là thù-thắng đối với ánh sáng của các khế kinh. Ánh sáng của các khế kinh không thể kịp được. Vì ánh sáng Đại-Niết-Bàn có thể chiếu vào các lỗ chơn lông của chúng sanh…
……….
Nầy Thiện-nam-tử ! Trừ hạng nhứt-xiển-đề, những chúng sanh khác được nghe kinh nầy, thảy đều có thể làm nhơn duyên cho bồ-đề. Ánh sáng của tiếng pháp chiếu vào lỗ chơn lông quyết định sẽ đặng vô thượng chánh đẳng chánh giác.”
◊
Giải:
– kinh Đại Niết Bàn là mưa đại pháp Như Lai rưới xuống đem lợi ích cho chúng sanh (cũng đem lợi ích cho người đời).
– sự vi diệu của kinh Đại Niết Bàn xuất hiện ra đời vào đời mạt pháp là âm thanh của lời kinh Đại Niết Bàn giảng có phát ra ánh sáng chiếu vào thân người nghe – người nghe đều có thể dứt trừ tất cả tội nghiệp vô gián (do chính mình tạo ra), tất cả những điều ác (làm hại cho mình).
=> chỉ cần nghe lời kinh Đại Niết bàn giảng thì tránh được những điều ác gây hại cho mình.
Sở dĩ Phật độ mọi người tránh những điều ác gây hại cho mình là vì thuyết của đạo Phật chỉ có cõi người mới có thể tu đạt quả Phật. Nên gìn giữ thân người trong đời mạt pháp là một phần của diệu pháp do các đức Phật trọn nên.
Trong khi đại dịch là một trong những điều ác khiến nhiều người phải mất mạng sống.
Nên khi có kinh Đại Niết Bàn xuất hiện ra đời – thì nghe âm thanh lời kinh Đại Niết Bàn giảng là cách đối phó với đại dịch đang xảy ra.
Vì sự vi diệu của kinh Đại Niết Bàn là lợi ích mà các đức Phật Như Lai đã trọn nên cho chúng ta – những người sanh trong đời mạt pháp.
Sau khi giảng nói về sự vi diệu của kinh Đại Niết Bàn xong, đức Phật bảo:
Nầy Thiện-nam-tử ! Sau khi ta nhập Niết-Bàn, lúc chánh pháp chưa dứt, còn tám mươi năm, kinh Đại thừa Đại Niết Bàn nầy sẽ lưu hành rộng nơi Diêm-Phù-Đề (: cõi người – trái đất của chúng ta). Lúc bấy giờ sẽ có các ác Tỳ-kheo sao lược kinh nầy chia làm nhiều phần, có thể làm mất mùi vị tốt đẹp của chánh pháp. Những người nầy dầu đọc tụng kinh điển đây, nhưng lại diệt trừ yếu nghĩa thâm mật của Như-Lai, đem lời thế gian vô nghĩa văn sức lẫn lộn, sao phần trước để ở sau, sao phần sau để ở trước, phần trước phần sau để ở giữa, phần giữa để ở phía sau phía trước. Nên biết các Tỳ-kheo nầy là bạn bè của ma (ý nói các ác Tỳ kheo là nhóm ma Ba Tuần)…
Các ác Tỳ-kheo nầy đem lời thế tục xen tạp vào kinh nầy. Làm cho đa số chúng sanh chẳng đặng lời nói chơn chánh, biên chép chơn chánh, nhận lấy chơn chánh, để tôn trọng tán thán cúng dường cung kính. Ác Tỳ-kheo đây vì lợi dưỡng nên chẳng thể lưu truyền rộng kinh nầy. Dầu có lưu truyền cũng là chút ít phần chẳng đáng kể…
Kinh Đại-thừa Đại-Niết-Bàn nầy lần lượt lạt lẽo không có khí vị. Dầu không khí vị vẫn còn hơn những kinh khác cả ngàn lần. Vì kinh Đại-thừa Đại-Niết-Bàn nầy là thượng-thủ nhứt đối với kinh điển Thanh-văn…
Vì nghĩa nầy nên gọi là Đại-thừa Đại-Niết-Bàn.”
◊
Giải:
– lời giảng trong các kinh Đại thừa đã bị ma Ba Tuần phá hoại => người tu học pháp Phật không còn hiểu đúng về pháp Phật => giải thích vì sao người giảng kinh Đại Niết Bàn không thuộc hàng tứ chúng
◊
Để xác định những người giảng nói ý nghĩa thâm mật trong các kinh điển Đại thừa vào đời mạt pháp – là hóa thân Bồ tát.
Trong phẩm Tứ Y có đoạn ngài Ca Diếp Bồ tát bạch Phật:
“Bạch Thế-Tôn ! Sau khi Như-Lai diệt độ, trong khoảng bốn mươi năm, kinh Đại-thừa Đại-Niết-Bàn nầy sẽ rộng truyền ở cõi Diêm-Phù-Đề, qua thời gian ấy sẽ ẩn mất vào đất. Vậy chẳng biết chừng nào kinh nầy sẽ lại xuất hiện ?”
Phật dạy : “ Nầy Ca-Diếp ! Lúc chánh pháp của Như-Lai còn thừa tám mươi năm, bốn mươi năm đầu là thời gian mà kinh nầy lại được thạnh truyền”.
Ca-Diếp Bồ-Tát lại thưa : “Bạch Thế-Tôn ! Lúc chánh pháp diệt, chánh giới hư, phi pháp tăng trưởng, chúng sanh tệ ác, (cũng nói đời mạt pháp) thời ai là người có thể nghe hiểu thọ trì đọc tụng nhuần thuộc, cùng cúng dường cung kính biên chép giải nói kinh điển Đại-thừa nầy (ngài Ca Diếp muốn biết đời mạt pháp ai là người – giải nói lời giảng trong các kinh Đại thừa). Mong Như-Lai xót thương chỉ bảo, cho các hàng Bồ-Tát được bực bất thối tâm vô-thượng bồ-đề.”
Phật khen: “Nầy Ca-Diếp ! Lành thay ! Lành thay ! Chúng sanh nào đã từng phát tâm bồ-đề ở chổ chư Phật nhiều bằng số cát của một sông Ni-Liên mới có thể nơi đời ác (cũng tức đời mạt pháp) thọ trì kinh điển như thế nầy mà không phỉ báng.
Thứ hai: Chúng sanh nào được phát tâm bồ-đề nơi chư Phật bằng số cát của một sông Hằng, vậy sau mới có thể ở trong đời ác ưa thích pháp Đại-thừa nầy, nhưng chẳng thể giảng giải cho mọi người.
Thứ ba: Chúng sanh nào từng ở trước chư Phật bằng số cát của hai sông Hằng phát tâm bồ-đề, mới có thể ở trong đời ác chẳng phỉ báng kinh nầy, mà tin hiểu chơn chánh cùng ưa thích thọ trì đọc tụng, nhưng cũng chẳng thể giảng rộng cho người.
Thứ tư: Chúng sanh phát tâm bồ-đề nơi chư Phật bằng số cát của ba sông Hằng, mới có thể ở đời ác tin hiểu thọ-trì đọc tụng và giảng nói kinh nầy, nhưng chưa hiểu thâm nghĩa.
Thứ năm: Chúng sanh phát tâm bồ-đề nơi chư Phật bằng số cát của bốn sông Hằng, mới có thể ở đời ác tin ưa đọc tụng kinh nầy và giảng nói một phần trong mười sáu phần thâm nghĩa.
Thứ sáu: Chúng sanh phát tâm bồ-đề nơi chư Phật bằng số cát của năm sông Hằng, mới có thể ở đời ác giảng nói tám phần trong mười sáu phần thâm nghĩa của kinh nầy.
Thứ bảy: Chúng sanh phát tâm bồ-đề nơi chư Phật bằng số cát trong sáu sông Hằng, mới có thể ở đời ác giảng nói mười hai phần trong mười sáu phần thâm nghĩa của kinh nầy.
Thứ tám: Chúng sanh phát tâm bồ-đề nơi chư Phật bằng số cát trong bảy sông Hằng, mới có thể ở đời ác giảng nói mười bốn phần trong mười sáu phần thâm nghĩa của kinh nầy.
Và cuối cùng là chúng sanh phát tâm bồ-đề nơi chư Phật bằng số cát của tám sông Hằng, ở đời ác, mới có thể tự mình và khuyên người đối với kinh nầy (tức đối với lời giảng trong các kinh Đại thừa) tin ưa đọc tụng biên chép thọ trì, cúng dường cung kính, và hiểu thấu tất cả nghĩa vị, tức là Như-Lai thường trụ chẳng dời, rốt ráo an vui, tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, người nầy khéo biết các pháp tạng của Như-Lai, cúng dường vô lượng chư Phật, kiến lập chánh pháp vô thượng và thọ trì ủng hộ.
Nếu có người mới phát tâm vô-thượng bồ- đề (tức lúc kinh Đại Niết Bàn xuất hiện ra đời), phải biết rằng đời vị lai (cũng ngay lúc kinh Đại Niết Bàn xuất hiện ra đời), người nầy ắt có thể kiến lập và thọ trì ủng hộ chánh pháp như thế nầy.
◊
Giải:
– thời điểm hỏi đáp trong đoạn kinh này là đời mạt pháp – lúc có kinh Đại Niết Bàn xuất hiện ra đời.
– phát tâm Bồ đề ở chỗ nhiều chư Phật => phát nguyện với chư Phật thực hiện diệu pháp do các đức Phật trọn nên => có lời nguyện thực hiện Bồ tát đạo độ chúng sanh thoát sanh tử luân hồi.
Vào đời mạt pháp có 9 bậc hóa thân Bồ tát xuất hiện ra đời để kiến lập, thọ trì ủng hộ chánh pháp của Như Lai.
Trong đó, người thứ chín là người giảng kinh Đại Niết Bàn. Tự mình hiểu thấu tất cả nghĩa vị – không có học với các vị tu theo Thanh văn thừa. Duyên giác thừa => không thuộc hàng tứ chúng.
Ngoài ra, cũng có chúng sanh cõi người sau khi nghe kinh Đại Niết Bàn thì mới phát tâm kiến lập và thọ trì ủng hộ chánh pháp của Như Lai => nếu các Bạn có duyên nhận ra sự xuất hiện ra đời của kinh Đại Niết Bàn thì hãy giảng nói sự vi diệu của kinh Đại Niết Bàn. Diệu pháp do các đức Phật Như Lai trọn nên, để giúp mọi người đối phó với đại dịch đang đe dọa mạng sống của người đời. Vì thời điểm kinh Đại Niết Bàn xuất hiện ra đời là lúc nơi đời xảy ra rất nhiều điều ác, làm hại thân mạng của người đời.
Chỉ có pháp của Phật mới nguyện gìn giữ thân người cho đến khi tu đạt quả Phật.
Diệu Đức – Pháp Phật đời mạt pháp
Tháng 5 năm 2020
