Giải ở phần Tư Vấn - câu hỏi từ (giacngo.vn)

MA BA TUẦN PHÁ PHẬT SAO VẪN LÀM VUA CÕI TRỜI ?

HỎI:  Trong quá trình học Phật, tôi được biết các cõi trời Dục giới gồm 6 tầng, cao nhất là trời Tha Hóa Tự Tại do thiên ma Ba Tuần cai quản tất cả.  Theo ý tôi nghĩ điều này có gì đó thật vô lý.  Vì được sinh về cõi trời đều do nhân tu tập phước báo, nhất là hành thập thiện, nếu một vị chư Thiên khởi niệm xấu sẽ mất phước, bị đọa.  Vậy thiên ma Ba Tuần luôn chống phá Phật pháp và những người tu Phật, trong tâm còn những hạt giống xấu ác như vậy thì làm sao được làm vua trời cao nhất của Dục giới?  Tôi không biết là thiên ma Ba Tuần tu phước nghiệp gì mà sinh về cõi trời?

ĐÁP:  Vì cõi trời Tha Hóa Tự Tại là cõi trời cao nhất của cõi Dục nên là pháp thế gian.  Và do quy luật sanh tử luân hồi của pháp thế gian khiến chúng sanh cõi Dục khổ não nên đức Phật mới ví cõi Dục như ngôi nhà lửa.

Vì theo thuyết của đạo Phật thì cõi Ta Bà gồm có ba cõi – kể từ thấp đến cao là cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô Sắc.  Cõi Sắc và cõi Vô Sắc không có theo quy luật sanh tử luân hồi.  Nhưng vì chưa được thường trụ nên từ cõi Sắc, cõi Vô Sắc vẫn có thể bị rơi vào cõi Dục.  Khi rơi vào cõi Dục rồi mới phải tuân theo quy luật sanh tử luân hồi của pháp thế gian.

Còn muốn biết về sự sai khác giữa pháp thế gian do thiên ma Ba Tuần cai quản và pháp xuất thế của Như Lai thì trong kinh Đại Bát Niết Bàn – phẩm Trường Thọ – đức Phật có kể ẩn dụ “trưởng giả và người chăn” để giải thích với ngài Ca Diếp Bồ tát về sự sai khác này.  Lời Phật kể:

“Ví như nhà trưởng giả kia có nuôi nhiều bò, màu lông khác nhau, đồng chung một bầy.  Trưởng giả giao bầy bò cho người chăn thả đi ăn cỏ uống nước, chỉ vì vị đề-hồ chớ chẳng cầu sữa bơ.  Người chăn ấy vắt sữa rồi tự uống.  Trưởng giả chết, bao nhiêu bò đều bị bọn cướp đoạt cả.

Bọn cướp tự vắt sữa ra uống, rồi bàn với nhau rằng ông Trưởng giả nuôi bầy bò nầy chỉ muốn đặng vị đề-hồ chớ không cầu sữa bơ.  Chúng ta làm cách gì để đặng đề-hồ.  Đề-hồ là phẩm vật quý nhứt trong đời.  Chúng ta không có gì đựng, dầu vắt được sữa cũng không chỗ chứa.”  Chúng lại bàn đựng sữa trong túi da.  Dầu có đồ đựng nhưng vì không biết cách làm, nên bơ còn không được thành, huống là đề-hồ.  Vì muốn được đề-hồ, bọn cướp đổ thêm nước vào túi sữa, vì quá nhiều nước nên chẳng những không được đề-hồ, bơ, mà cả sữa cũng mất.

Phàm phu cũng vậy, dầu có pháp lành nhưng đều là pháp thừa của Như-Lai.  Sau khi Thế-Tôn nhập Niết-bàn (: khi không có sự hiện diện của đức Phật Thích Ca nơi cõi Dục), họ (: nhóm của Phạm Thiên) trộm pháp lành thừa của Như-Lai hoặc, giới, định, hoặc huệ.  Như bọn cướp (nhóm người chăn) đoạt bầy bò.  Hạng phàm phu (nhóm Phạm Thiên) dầu lại đặng giới, định, trí huệ, nhưng không có phương tiện nên chẳng giải thuyết được.  Vì nghĩa nầy nên họ (nhóm Phạm Thiên) không thể đặng thường giới, thường định, thường huệ giải thoát.  Như bọn cướp kia (nhóm người chăn) chẳng biết phương tiện không được đề-hồ, rồi vì đề-hồ mà đổ nước vào sữa.  Cũng vậy, hạng phàm phu (nhóm Phạm Thiên) vì giải thoát mà nói Ngã hoặc Phạm-Thiên, Tự-Tại-Thiên, nhẫn đến Phi-Tưởng, Phi-Phi-Tưởng-Thiên chính là Niết-bàn kỳ thiệt họ (nhóm Phạm Thiên) chẳng được giải thoát Niết-bàn. Như bọn cướp kia không được đề-hồ.

Hạng phàm phu ấy có chút ít phạm hạnh, cúng dường cha mẹ, nhờ đây được sanh lên trời hưởng một ít an lạc, như bọn cướp kia được sữa pha với nước.  Mà hạng phàm phu ấy thiệt chẳng biết được (thế nào là) giới, định, trí huệ, quy y Tam bảo, rồi do chẳng biết (giới, định, trí huệ, quy y Tam bảo) mà nói thường lạc, ngã, tịnh.  Dầu lại nói thường, lạc, ngã, tịnh mà thiệt ra thời họ chẳng biết”.

Vì ẩn dụ này đức Phật giảng nói về sự sai khác giữa pháp thế gian do thiên ma Ba Tuần cai quản và pháp xuất thế của Như Lai.  Nên phàm phu đức Phật nói trong ẩn dụ là nhóm của Phạm Thiên – vị trời tạo tập ra cõi Dục và quy luật sanh tử luân hồi.  Còn thiên ma Ba Tuần chỉ thay Phạm Thiên cai quản cõi Dục.  Và cõi Vô Sắc cũng thuộc nhóm của Phạm Thiên – tuy trộm được pháp lành của Như Lai nhưng vì không biết các giải thuyết nên chỉ mới tu đạt giới, định, trí huệ.  Trong khi tu đạt pháp xuất thế của Như Lai thì được thường giới, thường định, thường huệ giải thoát.

Do đó, sự sai khác giữa pháp thế gian và pháp xuất thế là từ chỗ tu đúng và tu sai pháp Phật – nên không thể từ chỗ tu thuận theo luật nhơn quả luân hồi của pháp thế gian mà đạt được quả xuất thế của Như Lai – như phần đông chúng ta đã lầm nghĩ.  Và đời mạt pháp là thời điểm Phật chuyển đổi pháp từ chỗ tu thuận theo pháp thế sang tu pháp xuất thế.

Vì vậy, quan niệm tu tập phước báo, hành thập thiện được sinh về cõi trời – hoặc chư Thiên mà khởi niệm xấu sẽ mất phước, bị đọa – là cách giải thuyết của pháp thế gian – thuận theo quy luật sanh tử luân hồi -/ không giống với cách giải thuyết về pháp xuất thế của Như Lai mặc dầu cách thực hiện pháp tu giống nhau.

Do đó, lời đức Phật giảng về pháp xuất thế của Như Lai không ứng dụng với quy luật của pháp thế do thiên ma Ba Tuần cai quản nơi cõi Dục.